Ngân hàng tư nhân mạnh tay chi cổ tức và kỳ vọng lãi lớn trong 2026?
"Ngân hàng tư nhân kỳ vọng lãi đậm trong năm 2026, tự tin trả cổ tức cao"? Tò mò về cái bài viết đó nên mình đã đi research xíu về lý do cho việc nhận định đoá.
Nếu bạn theo dõi thị trường chứng khoán hoặc thị trường vàng trong nửa đầu năm 2026 thì thấy nó khá là khó kiếm lời, đặc biệt là các nhà đầu tư fomo lao vào sau khi quyết định đu vàng hoặc đầu tư vài mã họ nhà P. Ý là nó không phải là một uptrend như đầu năm 2025, sau sự kiện thuế quan thị trường chứng khoán đã có một pha uptrend, thế nên mình khá là tò mò về cái việc các ngân hàng tư nhân kỳ vọng vào một con số tăng trưởng lớn của mình.
1. Sự kỳ vọng về một giai đoạn tăng trưởng kinh tế.
Với kỳ vọng nền kinh tế bước vào giai đoạn tăng tốc, mục tiêu GDP 2 con số. Trước tiên phải làm rõ việc tăng trưởng 2 con số là như nào?
Để duy trì tăng trưởng GDP 2 con số, cụ thể là khoảng đâu đó trên 10%, mình sẽ tính theo ICOR (Incremental Capital Output Ratio) – Hệ số gia tăng vốn trên sản lượng.
ICOR = Vốn đầu tư trong kỳ / mức tăng trưởng trong kỳ
Hiện tại ICOR của Việt Nam hiện đang khá cao, khoảng 6 - 6,5. Đang cao hơn so với các nước phá triển (trung bình khoảng 4). Điều này phản ánh rằng hiệu quả đầu tư đang còn thấp, áp vào công thức thấy rõ rằng để mà tạo ra được 1 số tăng trưởng trong kỳ thì cần đâu đó 6 - 6,5 đồng vốn đầu tư. Hiện tại kinh tế Việt Nam GDP đang khoảng 514 tỷ USD (theo VnEconomy), vậy nên tăng trưởng 10% tương đương khoảng 51,4 tỷ USD thì tổng vốn đầu tư ban đầu khoảng x6 lên là tầm 306 tỷ USD một năm.
Roài, chúng ta có con số tầm 300 tỷ USD vốn đầu tư toàn xã hội. Êi số khá to đó, điều đó cho thấy rằng việc đặt ra tăng trưởng kinh tết 2 chữ số trong giai đoạn hiện tại là rất thách thức và cho thấy quyết tâm cao của Chính Phủ khi đặt ra mức kỳ vọng phát triển này.
Quay lại vấn đề chính, năm nay nhà nước cần tăng trưởng GDP 2 chữ số, và cần khoảng 300 tỷ USD tổng vốn đầu tư, và như đã nói đây là con số khá to. Để mà giải ngân đầu tư công, hiểu đơn giản nhà nước khó mà có thể "ôm" và giải ngân toàn bộ số vốn trên được, khi đó nhà nước sẽ tập trung vào việc tạo ra môi trường để "đòn bẩy" vốn tư nhân. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, tư nhân đóng vai trò vận hành, và mô hình hợp tác công - tư (PPP) là cầu nối chiến lược. Cụ thể nhà nước sẽ:
Hoàn thiện hành lang pháp lý: Đây là yếu tố then chốt. Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý cho đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP). Một khung pháp lý rõ ràng, minh bạch giúp nhà đầu tư yên tâm bỏ vốn mà không sợ rủi ro pháp lý hoặc thay đổi chính sách đột ngột
Chia sẻ rủi ro: Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc giảm gánh nặng cho tư nhân ở các dự án lớn, rủi ro cao (như hạ tầng giao thông, năng lượng). Ví dụ: Nhà nước có thể tham gia giải phóng mặt bằng, hỗ trợ thủ tục hoặc cam kết mua sản phẩm đầu ra (điện, nước) trong một thời gian nhất định.
Doanh nghiệp tư nhân thường quản lý vốn hiệu quả hơn và có trách nhiệm hơn với lợi nhuận. Và cũng vì áp lực lợi nhuận, họ sẽ giữ tiến độ và hoàn thành việc nhanh hơn. Họ sẽ là bên bỏ ra phần lớn chi phí xây dựng (thường từ 70-80% tổng mức đầu tư trong các dự án PPP) để đổi lấy quyền khai thác, vận hành công trình. Nhưng khoan, con số 70 - 80% ở đâu mà ra, tư nhân cũng không thể nào bỏ ra số vốn lớn như vậy được, họ cũng phải đi vay, thì thì vay ở đây sẽ là các ngân hàng tư nhân.
2. Doanh nghiệp tư nhân cần vốn đầu tư, sao lại là các ngân hàng thương mai tư nhân mà không phải ngân hàng thương mại nhà nước?
Đơn giản các ngân hàng tư nhân có những điểm mạnh mà các ngân hàng thương mại nhà nước không có:
Tính linh hoạt và tốc độ: Một doanh nghiệp tư nhân cần vay 100 tỷ để nhập lô hàng trong 2 tuần. Ngân hàng tư nhân có thể phê duyệt trong 3-5 ngày. Ngân hàng nhà nước (Vietcombank, BIDV) có thể mất 1-2 tháng vì quy trình nhiều tầng nấc.
Hiểu doanh nghiệp tư nhân: Các ngân hàng tư nhân thường có đội ngũ chuyên trách cho từng ngành nghề, hiểu rõ dòng tiền, rủi ro của doanh nghiệp tư nhân hơn.
Chấp nhận rủi ro cao hơn: Doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là startup hoặc doanh nghiệp vừa và nhỏ, thường không có tài sản đảm bảo "khủng". Ngân hàng tư nhân sẵn sàng chấp nhận các hình thức đảm bảo khác như dòng tiền, uy tín, thương hiệu.
Cạnh tranh lành mạnh: Sự tồn tại của các ngân hàng tư nhân tạo ra cạnh tranh, buộc các ngân hàng nhà nước phải cải thiện dịch vụ, giảm lãi suất và đa dạng sản phẩm.
Ngân hàng nhà nước (thương mại) cung cấp vốn lớn, lãi suất thấp cho các dự án quy mô, nhưng chậm và cứng nhắc.
Ngân hàng tư nhân cung cấp tốc độ, sự linh hoạt và hiểu biết sâu sắc về doanh nghiệp tư nhân, dù lãi suất có thể cao hơn.
Đây rồi, chúng ta có một mỗi liên hệ giữa kỳ vọng tăng trưởng GDP cao kéo theo nhu cầu vốn đầu tư khổng lồ (hàng trăm tỷ USD), thì ngành ngân hàng tư nhân chính là một trong những hưởng lợi lớn nhất, và chính họ lại trở thành "ngọn lửa" tiếp sức cho tăng trưởng.
3. Vòng xoáy tăng trưởng của ngân hàng thương mại tư nhân
Khác với doanh nghiệp sản xuất (phải đầu tư nhà máy, máy móc, nguyên liệu rồi mới bán hàng thu lãi), ngân hàng có một đặc thù: lợi nhuận tỷ lệ thuận với quy mô cho vay và gần như ngay lập tức.
Công thức lợi nhuận cơ bản:
Lợi nhuận = (Lãi suất cho vay - Lãi suất huy động) x Tổng dư nợ cho vayKhi nền kinh tế cần vốn lớn: Các doanh nghiệp tư nhân ồ ạt vay để mở rộng nhà máy, làm dự án hạ tầng, nhập khẩu công nghệ. Tổng dư nợ cho vay của ngân hàng tăng vọt.
Kết quả: Ngay cả khi biên lãi suất (chênh lệch) không đổi, lợi nhuận tuyệt đối của ngân hàng vẫn tăng theo cấp số nhân nhờ quy mô.
Lãi suất "đều đều" nhưng lợi nhuận "bùng nổ"biên lãi suất (NIM) của ngân hàng Việt Nam thường ổn định trong khoảng 3-4%/năm, không thay đổi đột biến. Nhưng:
Lãi đều trên mỗi đồng cho vay = 3-4%.
Nhưng nếu số đồng cho vay tăng gấp 2-3 lần trong 2-3 năm, lợi nhuận sẽ tăng tương ứng.
Điều này giải thích vì sao trong các giai đoạn kinh tế tăng trưởng nóng, cổ phiếu ngân hàng thường là "ngôi sao sáng" trên thị trường chứng khoán. Lợi nhuận của họ có thể tăng 30-50% mỗi năm liên tục trong nhiều năm.
4. Các khoản doanh thu ngoài lãi
Như đã biết thì các khoảng góp vào doanh thu chủ yếu của ngân hàng là lãi. Nhưng các banks cũng có các khoảng tiền lợi nhuận khác như:
Đầu tư BĐS, chứng khoán, kinh doanh ngoại hối và vàng.
Thu nhập từ phí dịch vụ: phí thanh toán và chuyển tiền, phí thẻ, phí tài trợ thương mại.
Bala... Đó là lý do vì sao các ngân hàng tư nhân tự tin kỳ vọng về mức lợi nhuận cao trong năm nay. Vậy nên trong danh mục đầu tư ít nhiều phải có một mã bank =))
Trên đây là bài viết của mình về lý do việc ngân hàng thương mại tư nhân tự tin về kỳ vọng lãi trong năm 2026. Bài viết được tham khảo từ các nguồn khác nhau, và mang hướng ghi chép, thuật lại những gì mà mình tìm hiểu được. Không có mục đích dự đoán hay khuyến nghị đầu tư. Thanks for reading!
